Cần có chính sách bảo hiểm rừng
Ngày: 08.06.2017
Ngày 8-6, Quốc hội làm việc ở Tổ, đại biểu Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội (ĐBQH) tỉnh Kiên Giang, Tổ trưởng điều hành phiên thảo luận Tổ 10.

Dự thảo Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) đưa ra lấy ý kiến lần này gồm 12 chương, 97 điều, tập trung vào các nội dung như: Quy hoạch, quản lý rừng, quyền và nghĩa vụ của chủ rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng, quản lý nhà nước về lâm nghiệp… Qua thảo luận, đại biểu đồng tình không đổi tên Luật bảo vệ và phát triển rừng (sửa đổi) thành tên gọi Luật lâm nghiệp, vì chủ thể khác nhau, lâm nghiệp chỉ là một ngành, nên phạm vi điều chỉnh sẽ hẹp hơn; bảo vệ và phát triển rừng muốn bền vững phải gắn với người dân và cộng đồng.

Đại biểu Bùi Đặng Dũng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách, ĐBQH tỉnh, ngoài việc đồng tình với tờ trình, báo cáo thẩm tra và cho rằng việc tổng điều tra về rừng chưa thật sự được quan tâm, nhiều địa phương còn chạy theo thành tích, việc giao đất rừng cần có cơ chế hiệu quả hơn, cần chấn chỉnh kịp thời việc cấp đất rừng cho việc xây dựng các công trình phát triển du lịch trái phép.

Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng đoàn chuyên trách Đoàn ĐBQH tỉnh, đánh giá chung việc chuẩn bị 2 dự án luật còn sơ sài. Trước mắt thống nhất với tên gọi, nhưng cần nghiên cứu để tên gọi bao quát hơn; phân loại rừng, chuyển mục đích rừng, thống nhất với dự thảo, nhưng cần nghiên cứu để đồng bộ với Luật đất đai. Việc giao cho UBND cấp xã tham gia quản lý, bảo vệ rừng là phù hợp; cần nghiên cứu thêm các chính sách như bảo hiểm đối với bảo vệ và phát triển rừng.

Đồng thời, dự án Luật thủy sản (sửa đổi) lấy ý kiến gồm 8 chương, 100 điều. Đại biểu tập trung thảo luận vào các nội dung như: Tên gọi, phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, về chính sách, quản lý trong hoạt động và phát triển thủy sản; về khu bảo tồn biển, thủy sản nội địa; thành lập Quỹ bảo vệ phát triển nguồn lợi thủy sản. Đại biểu cho rằng, việc quy định Bộ Ngoại giao có trách nhiệm bảo hộ ngư dân ở nước ngoài là chưa chính xác, vì khi ngư dân không đi đánh bắt mà đi du lịch thì không thể bảo hộ được; Điều 58, ngư dân Việt Nam khai thác vùng biển nước ngoài dùng “chấp thuận” là không chính xác, chỉ mang thủ tục; Điểm b, Khoản 1 Điều 60 cần quy định đăng kiểm 12 tháng đối với tàu Việt Nam đi đánh bắt ở nước ngoài cũng như tàu nước ngoài vào Việt Nam đánh bắt, để tránh phân biệt đối xử (dự thảo quy định tàu Viêt Nam 3 tháng, tàu nước ngoài 12 tháng); nội hàm đồng quản lý cần xác định rõ giữa nhà nước và cộng đồng; Khoản 4, Điều 23 về “Quỹ phát triển” nên thành lập ở cấp tỉnh mới có đủ điều kiện, cấp huyện không nên thành lập.

Đại biểu Bùi Đặng Dũng cho rằng, chưa có đánh giá tổng thể về nguồn lợi thủy sản, đề nghị đánh giá bổ sung; việc cho thuê đến 24 tháng diện tích mặt nước không sử dụng thu hồi quá dài, cần rút ngắn; việc giao mặt nước 20 năm, Ban soạn thảo cần nghiên cứu tăng thời giao như các loại đất sản xuật nông nghiệp; bổ sung thêm nội dung quản lý mặt nước hồ ao, kênh rạch để đầy đủ hơn trong đối tượng áp dụng; cần xem xét lại tính khả thi của các quỹ. Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé góp ý, qua thực tế tỉnh Kiên Giang có bờ biển rộng, dài nhưng chỉ có 7 tàu lực lượng kiểm ngư mỏng, không thể quán xuyến hết, nên thành lập kiểm ngư khu vực để bảo đảm đủ sức bảo vệ vùng ngư trường, ngư dân trong khai thác, nuôi trồng và đánh bắt thủy sản./.

Thanh Anh
Số lần đọc:46