Quan tâm đầu tư hạ tầng giao thông để tăng tính kết nối phát triển
Ngày: 30.10.2018
Ngày 29-10-2018, Quốc hội thảo luận ở hội trường về kết quả thực hiện dự toán ngân sách nhà nước năm 2018; dự toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương năm 2019 và kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước quốc gia 3 năm 2019 - 2021; phân bổ nguồn kinh phí còn lại và chi thường xuyên chưa sử dụng hết năm 2017; đánh giá giữa kỳ thực hiện kế hoạch đầu tư công trung hạn, tài chính quốc gia 5 năm giai đoạn 2016-2020. Phó chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển điều hành thảo luận. Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé, Tỉnh ủy viên, Phó trưởng Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang phát biểu:

Kính thưa Quốc hội,

Tôi cơ bản thống nhất với đánh giá của Chính phủ trong các báo cáo về tài chính, báo cáo đầu tư công trung hạn và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách của Quốc hội. Tôi đi vào các báo cáo về tài chính.

Tôi nhận thấy rằng, điều đáng chú ý ở đây trong nhiều năm liền thu ngân sách nhà nước đều vượt dự toán. Chi ngân sách nhà nước đã đảm bảo các nhiệm vụ quản lý nhà nước, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các chế độ chính sách an sinh xã hội, các nghĩa vụ trả nợ thuế theo cam kết. Đây là một sự điều hành về tài chính khá chặt chẽ đảm bảo các nguồn lực ổn định trong phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt đạt được, tôi quan tâm 4 vấn đề sau:

Thứ nhất, về thu ngân sách, rất vui mừng vì nhiều năm liền chúng ta thu ngân sách vượt dự toán nhưng năm 2018 thu ngân sách lại thấp nhất trong 4 năm trở lại đây. Các nguồn thu chủ yếu tập trung vào nguồn thu không ổn định, số nguồn thu chủ yếu từ thu nhà đất, dầu thô. Như vậy, vô hình chung là bán tài nguyên để phát triển trong khi các nguồn thu khác từ lợi nhuận là thu không đạt. Ví dụ, nguồn thu ở khu vực doanh nghiệp nhà nước, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thu ở khu vực kinh tế ngoài quốc doanh v.v... đây là điều đáng quan tâm. Tôi đề nghị Chính phủ có giải pháp hữu hiệu hơn để kiểm soát tăng cường quản lý thu tại 3 khu vực này để thực hiện đúng các quy định Quốc hội ban ra.

Thứ hai, về nợ đọng thuế. Các báo cáo hiện nay đều có số nợ đọng thuế khá cao, có xu hướng gia tăng so với năm 2017. Theo báo cáo Chính phủ đến ngày 30/9/2018 số nợ đọng nội địa là 82,9 ngàn tỷ động, tăng 13,4% so với thời điểm 31/12/2017. Trong đó số nợ đọng thuế không có khả năng thu là khoảng 34.800 tỷ đồng do người nộp thuế đã bị phá sản, ngưng hoạt động hoặc chết hay mất năng lực hoặc hành vi dân sự v.v... Tôi đề nghị Chính phủ làm rõ vấn đề này và đề nghị Quốc hội xóa các khoản nợ có khả năng không thu được để minh bạch trong nợ thuế.

Thứ ba, về giải ngân vốn.Các báo cáo nêu trong công tác giải ngân về đầu tư phát triển thời gian qua thực hiện chậm gây lãng phí nguồn lực quốc gia. Trong 9 tháng đầu năm 2018 là giai đoạn giải ngân đạt thấp nhất trong 3 năm trở về đây, báo cáo Chính phủ đã nêu một số nguyên nhân giải ngân chậm. Tuy nhiên, chủ yếu chỉ nêu nguyên nhân khách quan, đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên chủ quan để có giải pháp điều hành chặt hơn, hiệu quả hơn đồng vốn chúng ta đã bỏ ra.

Thứ tư, về cân đối ngân sách. Theo báo cáo Chính phủ nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài của Việt Nam trong năm 2018 đều ở phạm vi cho phép, có giảm so với năm trước. Đây là điều đáng mừng. Tuy nhiên, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tài chính, Ngân sách Quốc hội đã chỉ ra tỷ trọng nợ công có xu hướng giảm nhưng số tuyệt đối về nợ công tiếp tục tăng. Như năm 2017 là 3.128.000 tỷ đồng nhưng ước năm 2018 là 3 triệu 409 ngàn tỷ đồng. Điều đáng nói là Việt Nam phát triển kinh tế là đi vay đầu tư, đây là điều cho thấy sự phát triển chưa thực sự bền vững của  kinh tế Việt Nam, tôi đề nghị Chính phủ cần làm rõ lộ trình vay, trả nợ các dự án đã ký kết nhưng chưa đưa vào nợ công. Tôi cho đây là các yếu tố làm gia tăng nợ công với mức cân đối ngân sách.

Đối với báo cáo đánh giá thực hiện đầu tư công trung hạn, tôi nhận thấy báo cáo đã làm rõ, sau khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư công, Chính phủ ban hành một số văn bản có liên quan tạo cơ sở pháp lý khá rõ ràng để Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức thực hiện, bố trí, quản lý, thực hiện các nguồn vốn đầu tư công, hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư công bước đầu đạt kết quả tích cực. Tỷ trọng đầu tư công có giảm so với tổng mức đầu tư của toàn xã hội, cơ cấu đầu tư giữa các ngành, lĩnh vực được điều chỉnh cơ bản phù hợp hơn đây là sự cố gắng lớn trong chỉ đạo, điều hành, bố trí sử dụng đầu tư công trong đầu tư xây dựng hạ tầng xã hội. Tuy nhiên, việc xác định danh mục ưu tiên đầu tiên trong giai đoạn vừa qua chưa rõ ràng, nhiều công trình, dự án vẫn chưa đưa và đầu tư. 

Bên cạnh đó, việc bố trí nguồn vốn đầu tư giữa các công trình, dự án còn cục bộ, đứt đoạn, chưa tạo ra sự liên thông trong liên kết vùng mà điển hình là các dự án giao thông ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tôi thống nhất với ý kiến của đại biểu tỉnh Đồng Tháp đã phát biểu về đầu tư cho giao thông ở đồng bằng sông Cửu Long tại phiên thảo luận về phát triển kinh tế - xã hội vừa qua. Việc bố trí về đầu tư cho giao thông ở vùng đồng bằng sông Cửu Long chưa tạo ra điểm nhấn để phát triển kinh tế, chưa giải quyết được bài toán lưu thông của vùng, hiệu quả đầu tư của mỗi dự án chưa kết nối để làm nhân tố thúc đẩy kinh tế vùng phát triển.

Tôi đơn cử, hiện tại Quốc lộ 30 và cầu Cao Lãnh đã đi vào hoạt động, cầu Vàm Cống sắp hoàn thành nhưng đường kết nối từ biên giới Việt Nam - Campuchia thông qua dự án đường vành đai ven biển, đoạn Rạch Sỏi - Lộ Tẻ gắn với cầu Vàm Cống thì hiện nay chưa đầu tư, đoạn từ cầu Cao Lãnh đến Quốc lộ 1A cũng gián đoạn. Như vậy, hiệu quả đầu tư của Quốc lộ 30 và cầu Cao Lãnh chỉ giải quyết được cục bộ. Đề nguồn vốn đầu tư cho đồng bằng sông Cửu Long thực sự hiệu quả, tạo ra động lực kinh tế phát triển của vùng, kiến nghị Chính phủ sớm đưa vào đầu tư các đoạn đường như trên để giao thông trở thành huyết mạch kết nối, mở đường phát triển kinh tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long, bắt nhịp cùng đà phát triển chung của cả nước.

Thanh Anh (lược ghi)
Số lần đọc:28