Quốc hội thảo luận 2 dự án luật và 1 Nghị quyết
Ngày: 25.05.2020
Thứ Hai, ngày 25/5/2020, tiếp tục ngày làm việc thứ 5 bằng hình thức trực tuyến.Buổi sáng, Quốc hội nghe: Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp của Quốc hội Lê Thị Nga trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Hòa giải, đối thoại tại tòa án và thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật này. Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu điều hành. Qua thảo luận đã có 17 đại biểu Quốc hội phát biểu ý kiến, 2 đại biểu Quốc hội tranh luận. Đồng chí Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã có Báo cáo giải trình, làm rõ thêm một số nội dung mà các vị đại biểu Quốc hội quan tâm.

Các phát biểu rất sôi nổi, thẳng thắn và cụ thể, cơ bản tán thành với báo cáo giải trình, tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội và nhiều nội dung của dự thảo luật. Bên cạnh đó, một số ý kiến đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp tục chỉ đạo nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý, làm rõ một số vấn đề cụ thể. Một là, về chi phí hòa giải, đối thoại tại Tòa án (Điều 9). Nhiều ý kiến đại biểu tán thành với quy định của điều này và về cơ bản nhất trí chủ trương Nhà nước không thu chi phí hòa giải, đối thoại tại tòa án, trừ 3 trường hợp được nêu trong dự thảo. Cũng có ý kiến đề nghị quy định cụ thể chi phí nào là do Nhà nước bảo đảm; còn chi phí loại nào, việc gì thì do đương sự phải chi trả. Hai là, về phạm vi hoạt động của hòa giải viên tại Điều 15. Nhiều ý kiến đại biểu nhất trí với quy định tại Điều 15 dự thảo luật. Theo đó, hòa giải viên có thể tiến hành hòa giải tại các tòa án khác ngoài tòa án họ đã được bổ nhiệm nhưng trong phạm vi địa giới hành chính của tỉnh, thành phố nơi tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc có trụ sở. Một số ý kiến đề nghị hòa giải viên chỉ được hoạt động giới hạn trong phạm vi địa giới hành chính của tòa án, nơi họ đã được bổ nhiệm. Ba là, về trình tự nhận xử lý đơn khởi kiện, đơn yêu cầu tại tòa án và chỉ định hòa giải viên tại Điều 18. Nhiều ý kiến đại biểu nhất trí với quy định tại Điều 18 dự thảo luật, đó là ngay khi nhận được đơn khởi kiện, đơn yêu cầu, tòa án thông báo bằng văn bản cho người nộp đơn biết để họ thực hiện quyền lựa chọn hòa giải, đối thoại tại tòa án hoặc giải quyết vụ việc theo thủ tục tố tụng quy định tại Bộ Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính. Có ý kiến đề nghị quy định sau khi nhận đơn khởi kiện tòa án phải hỏi các bên trước khi chuyển đơn sang thụ lý theo thủ tục hòa giải để bảo đảm đúng nguyên tắc tự nguyện của hòa giải. Bốn là, về thủ tục ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành tại tòa án, tại Điều 32. Nhiều ý kiến đại biểu tán thành với quy định tại điều này. Một số ý kiến cho rằng do tính chất quan trọng của quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành nên cần quy định mở phiên họp với trình tự, thủ tục, thành phần, như quy định tại Chương XXXIII của Bộ Luật tố tụng dân sự. Một số ý kiến đề nghị quy định thủ tục tòa án quyết định công nhận kết quả hòa giải thành, đối thoại thành là thủ tục bắt buộc sau khi các bên hòa giải thành, đối thoại thành. Có ý kiến đề nghị rút ngắn thời gian ra quyết định công nhận kết quả hòa giải thành xuống là 5 ngày, 7 ngày hoặc 10 ngày.

Về một số các vấn đề khác Chánh án đã báo cáo giải trình với Quốc hội, như vấn đề về bổ nhiệm, bầu hay công nhận hòa giải viên, về nhiệm kỳ hòa giải viên thay cho 3 năm bằng 5 năm. Về tiêu chuẩn, điều kiện hòa giải viên thì bổ sung thêm một số đối tượng, phân biệt thành 3 nhóm, với những điều kiện tiêu chuẩn khác nhau cho từng nhóm. Về vấn đề bảo mật thông tin, bổ sung điều cấm, về vai trò trò của Viện kiểm sát. Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ chỉ đạo các cơ quan nghiên cứu, tiếp thu báo cáo giải trình và báo cáo với Quốc hội vào ngày xem xét thông qua dự án luật này. Tiếp tụcphiên họp, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày Tờ trình; Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính - Ngân sách của Quốc hội Nguyễn Đức Hải trình bày Báo cáo thẩm tra về dự thảo Nghị quyết về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp; sau đó, Quốc hội thảo luận về Nghị quyết này. Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển điều hành nội dung này.  Qua thảo luận,  đa số ý kiến cho rằng, việc thực hiện miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp đang được thực hiện theo Nghị quyết số 55/2010/QH12 ngày 24/11/2010 của Quốc hội được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 28/2016/QH14 trên thực tế không gặp vướng mắc và có ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo Kết luận số 36-KL/TW ngày 6/9/2018 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI, Kết luận số 54-KL/TW ngày 07/8/2019 của Bộ Chính trị. Bên cạnh đó, trong giai đoạn vừa qua, ngày càng có nhiều doanh nghiệp, tập đoàn lớn chú trọng đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, phát triển sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao. Ngoài việc đầu tư quy mô lớn, sử dụng nhiều lao động tại các vùng kinh tế có điều kiện khó khăn, các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế đã tăng cường áp dụng khoa học công nghệ và nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng sản phẩm nông nghiệp. Những thành quả bước đầu đã góp phần khẳng định các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với sự phát triển của lĩnh vực nông nghiệp nước ta trong đó có chính sách miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp là đúng đắn. Ủy ban TCNS nhất trí với nội dung dự thảo Nghị quyết như đề nghị của Chính phủ.

Tuy nhiên, một số ý kiến đề nghị Chính phủ báo cáo rõ hơn kết quả thực hiện yêu cầu của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Báo cáo số 55/BC-UBTVQH14 ngày 11/11/2016 về việc giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 55/2010/QH12 về miễn, giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp, theo đó đề nghị Chính phủ tổng kết đánh giá việc thực hiện chính sách về miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp sau khi kết thúc thời hạn miễn, giảm thuế để nghiên cứu, trình Quốc hội xem xét quyết định chính sách thuế này cho phù hợp, đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật trong giai đoạn tiếp theo. Có ý kiến cho rằng, việc thực hiện miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp trên thực tế còn một số tác động thiếu tích cực khi không tạo động lực thúc đẩy đối với nhiều đối tượng là tổ chức, cá nhân trong việc canh tác, sản xuất trên diện tích đất được giao, gây nên tình trạng hoang hóa, lãng phí nguồn lực đất đai. Có tình trạng đất nông nghiệp được giao không được canh tác hoặc canh tác không hiệu quả và có tình trạng thu mua đất nông nghiệp để chờ nhận đền bù khi các địa phương triển khai các các dự án đầu tư (đối với đền bù theo thỏa thuận). Tại Báo cáo tổng kết của Chính phủ cũng không có số liệu về diện tích đất nông nghiệp không sử dụng, hoặc sử dụng sai mục đích bị thu hồi. Do đó, đề nghị cần bổ sung các quy định chặt chẽ hơn trong dự thảo Nghị quyết để chính sách miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp thực sự có tác động đến việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất, hạn chế việc bỏ hoang hóa ruộng đất, tránh lãng phí nguồn lực đất đai. Để có cơ sở cho việc tiếp thu, chỉnh lý hoàn thiện dự thảo Nghị quyết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao Chính phủ hoàn chỉnh các nội dung đại biểu đóng góp trình Quốc hội xem xét, quyết định.

 

Buổi chiều, sau nội dung thảo luận về dự thảo Nghị quyết miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp, dưới sự điều hành của Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Tòng Thị Phóng, Quốc hội nghe Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng giải trình ý kiến đại biểu Quốc hội; nghe Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội Phan Thanh Bình trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự án Luật Thanh niên (sửa đổi) và Quốc hội thảo luận về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự án Luật; cơ quan trình và cơ quan chủ trì thẩm tra phối hợp báo cáo, làm rõ một số vấn đề đại biểu Quốc hội nêu.

 

Thanh Anh
Số lần đọc:181