Quốc hội thảo luận dự thảo Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi)
Ngày: 24.10.2020
Thứ Bảy, ngày 24/10/2020: Buổi sáng, Quốc hội nghe Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật bảo vệ môi trường (sửa đổi) và thảo luận trực tuyến về dự án Luật. Phó Chủ tịch Quốc hội điều hành phiên thảo luận. Theo Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi).

Về chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia bảo vệ môi trường: Dự thảo Luật đã có quy định các hoạt động đầu tư kinh doanh về bảo vệ môi trường được ưu đãi, hỗ trợ như tại Điều 142 nhằm khuyến khích dự án đầu tư thuộc ngành nghề thu gom, xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng chất thải; thúc đẩy doanh nghiệp sản xuất, xử lý chất thải kết hợp thu hồi năng lượng, kinh doanh dịch vụ, sản phẩm thân thiện môi trường…; quy định về cơ sở, sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường (Điều 146) và mua sắm các sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường (Điều 147). Để chủ động kiểm soát và giảm thiểu nguy cơ gây ô nhiễm môi trường từ các dự án đầu tư đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội bền vững, Dự thảo Luật đã bổ sung 02 nội dung chính sách về sàng lọc dự án đầu tư dựa trên các tiêu chí về môi trường; lồng ghép và thúc đẩy các mô hình kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế các-bon thấp trong việc xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình, đề án, dự án như tại khoản 10 và khoản 11 Điều 5. Về bảo vệ môi trường nước, đất, không khí: Để thực hiện các biện pháp ứng phó với tình trạng ô nhiễm tại các đô thị lớn, Dự thảo Luật đã có quy định để bảo đảm tính đồng bộ, liên kết giữa kế hoạch quản lý chất lượng môi trường nước mặt, chất lượng môi trường không khí với quy hoạch bảo vệ môi trường; đồng thời quy định rõ trách nhiệm của Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh xây dựng, phê duyệt và tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý chất lượng môi trường không khí; đánh giá, theo dõi chất lượng môi trường không khí và công khai thông tin; cảnh báo cho cộng đồng và triển khai các biện pháp xử lý trong trường hợp chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm; tổ chức thực hiện biện pháp khi chất lượng môi trường không khí bị ô nhiễm nghiêm trọng như tại các Điều 9, 13 và 14. Về phân bổ hạn ngạch xả nước thải vào môi trường nước mặt, nội dung này là phù hợp với mục tiêu sử dụng nước đã được Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định tại Điều 53, 54 và 55. Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm soát các nguồn nước thải vào lưu vực sông, đề nghị Quốc hội cho phép tiếp tục quy định nội dung này trong Luật Bảo vệ môi trường. Về quy hoạch bảo vệ môi trường: Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng cho biết: Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉnh lý quy định về lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch bảo vệ môi trường như tại Điều 23, Điều 25 để thống nhất với Luật Quy hoạch và bảo đảm mục tiêu bảo vệ môi trường. Đồng thời xin tiếp thu không quy định nội dung quy hoạch bảo vệ môi trường trong Luật này mà thực hiện theo Luật Quy hoạch. Về lộ trình di dời các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, không phù hợp với quy hoạch, Dự thảo Luật giao Chính phủ quy định chi tiết nguyên tắc, tiêu chí xác định vùng bảo vệ nghiêm ngặt, vùng hạn chế phát thải phù hợp với mục tiêu quản lý chất lượng môi trường; định hướng đầu tư phát triển trong các vùng này; quy định lộ trình di dời cơ sở sản xuất, kinh doanh không phù hợp với mục tiêu quản lý chất lượng môi trường tại Điều 25 để bảo đảm sự linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa phương và yêu cầu bảo vệ môi trường trong từng thời kỳ phát triển. Đánh giá tác động môi trường, giấy phép môi trường: Về phân loại dự án đầu tư có tác động đến môi trường: Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy việc căn cứ quy mô, tính chất và mức độ tác động đến môi trường để phân loại dự án phải thực hiện thủ tục môi trường nói chung là phù hợp. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉnh sửa Dự thảo Luật để báo cáo Quốc hội theo 02 phương án, đồng thời các điều luật liên quan tương ứng cũng được chỉnh sửa theo. Về tiêu chí yếu tố nhạy cảm về môi trường nơi thực hiện dự án, Ủy ban Thường vụ Quốc hội xin được tiếp thu và đã quy định rõ hơn tiêu chí này nhằm đề cập tầm quan trọng của đối tượng bị tác động của dự án, vị trí của dự án đối với vùng nhạy cảm môi trường tại điểm c khoản 1 Điều 29b. Quy định này cũng là cơ sở để giao Chính phủ ban hành tiêu chí cụ thể và danh mục dự án thuộc các nhóm I, II và III. Về quy định đối tượng phải đánh giá sơ bộ tác động môi trường cho phù hợp với với Luật Đầu tư công, Luật Đầu tư, Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP), Luật Xây dựng. Về nội dung này, Dự thảo Luật trình 02 phương án. ề đánh giá tác động môi trường: Dự thảo Luật đã tiếp thu, chỉnh lý quy định đối tượng phải thực hiện tác động môi trường ở cả 2 phương án (Điều 31a, Điều 31b); chỉnh lý yêu cầu về nhân lực, điều kiện cơ sở vật chất đối với tổ chức hoặc chủ dự án tự thực hiện tác động môi trường; quy định chủ dự án được trình đồng thời hồ sơ thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường với hồ sơ thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi cho thống nhất với Luật Xây dựng (khoản 2 Điều 35); bổ sung điều kiện, trình độ của chuyên gia thành viên hội đồng thẩm định tác động môi trường (điểm b khoản 3 Điều 35); trách nhiệm của thành viên của Hội đồng thẩm định trước pháp luật về ý kiến nhận xét, đánh giá của mình (điểm đ khoản 3 Điều 35). Về hình thức và đối tượng tham vấn trong tác động môi trường: Dự thảo Luật đã tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội quy định rõ và cụ thể hơn đối tượng tham vấn là cộng đồng dân cư hoặc nhóm người chịu tác động trực tiếp bởi dự án và cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến dự án; quy định rõ trách nhiệm thực hiện tham vấn, nội dung tham vấn chủ yếu cũng như các hình thức tham vấn, đồng thời giao Chính phủ quy định chi tiết như tại Điều 33 để đảm bảo tính khả thi. Về thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” khi trong thủ tục thẩm định báo cáo tác động môi trường: Quy định tại khoản 2 Điều 35 Dự thảo Luật cho phép chủ dự án được trình đồng thời hồ sơ thẩm định báo cáo tác động môi trường với hồ sơ thẩm định báo cáo nghiên cứu khả thi; tùy vào loại hình dự án, chủ dự án sẽ chủ động tính toán cho phù hợp thời điểm trình thẩm định báo cáo tác động môi trường mà không phụ thuộc vào tiến độ của các bước thẩm định khác như theo quy định của pháp luật về xây dựng, pháp luật về phòng cháy, chữa cháy. Về thẩm quyền thẩm định báo cáo tác động môi trường: Dự thảo Luật trình các vị đại biểu Quốc hội 02 phương án như thể hiện tại Điều 36 dự thảo Luật. Về giấy phép môi trường: Dự thảo Luật trình 02 phương án. Về quản lý chất thải:Về quản lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân: Tiếp thu ý kiến của các vị đại biểu Quốc hội, Dự thảo Luật đã chỉnh lý quy định về phân loại chất thải rắn sinh hoạt thành 3 loại cơ bản và căn cứ điều kiện kinh tế-xã hội của từng địa phương, UBND cấp tỉnh quyết định việc phân loại cụ thể chất thải rắn sinh hoạt khác như tại Điều 76; quy định chi tiết về quản lý chất thải rắn sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân; quy định giá tối đa đối với dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt; mức chi trả của hộ gia đình, cá nhân cho công tác thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt dựa trên lượng, loại chất thải phát sinh. Về lộ trình thực hiện chậm nhất trước ngày 31/12/2024 như tại khoản 9 Điều 80 Dự thảo Luật.Về quản lý chất thải rắn công nghiệp thông thường: Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Dự thảo Luật đã quy định chất thải rắn công nghiệp thông thường được phân loại thành 03 nhóm: (1) Nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường được tái sử dụng, tái chế làm nguyên liệu sản xuất; (2) Nhóm chất thải rắn đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng và san lấp mặt bằng; (3) Nhóm chất thải rắn công nghiệp thông thường phải xử lý như tại khoản 1 Điều 82. Đối với tro, xỉ từ các nhà máy nhiệt điện phải được phân định, phân loại để quản lý phù hợp, đảm bảo các yêu cầu về hợp chuẩn, hợp quy làm nguyên liệu sản xuất thì được quản lý như đối với sản phẩm, hàng hóa; đáp ứng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật thì được sử dụng trong sản xuất vật liệu xây dựng và san lấp mặt bằng. Quản lý chất thải nguy hại: Tiếp thu ý kiến đại biểu Quốc hội, Dự thảo Luật đã giao Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành hướng dẫn kỹ thuật và mẫu biểu khai báo, phân loại, thu gom, lưu giữ chất thải nguy hại; hướng dẫn kỹ thuật về phương tiện, thiết bị lưu chứa, vận chuyển, xử lý, tiêu hủy chất thải nguy hại, cũng như hướng dẫn phòng ngừa và ứng phó sự cố trong quá trình vận chuyển chất thải nguy hại như quy định tại khoản 5 Điều 84. Về ứng phó với biến đổi khí hậu đã quy định cụ thể về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính (Điều 92); quy định kiểm kê khí nhà kính cho phù hợp với quy định của Công ước khung của Liên Hợp quốc về biến đổi khí hậu; bổ sung, quy định rõ trách nhiệm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh; các cơ sở có liên quan để bảo đảm thực hiện hiệu quả hoạt động về Bảo vệ tầng ô-dôn (Điều 93). Bổ sung, làm rõ nội dung cơ sở dữ liệu quốc gia về biến đổi khí hậu (Điều 95). Quy định các cơ sở được phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính và có quyền trao đổi, mua bán trên thị trường các-bon trong nước.  Về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường, Dự thảo Luật đã quy định sự cố môi trường gồm có 4 cấp (cấp cơ sở, cấp huyện, cấp tỉnh và cấp quốc gia) xác định theo phạm vi ảnh hưởng về không gian, địa giới hành chính như tại khoản 2 Điều 124. Đồng thời, đã chỉnh lý các nội dung liên quan trách nhiệm chỉ đạo ứng phó sự cố môi trường của cơ quan ứng phó ở Trung ương và địa phương cũng như trách nhiệm quản lý Nhà nước của các bộ, ngành, UBND, cơ quan chuyên môn các cấp và tổ chức, cá nhân liên quan như quy định tại các Điều 125, 126, 127 và Điều 128 của Dự thảo Luật… Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội Phan Xuân Dũng cho biết: Ngoài những vấn đề nêu trên, Dự thảo Luật đã nghiên cứu tiếp thu, chỉnh lý nhiều nội dung cụ thể tại các điều, khoản mà các đại biểu Quốc hội quan tâm như về giải thích từ ngữ; những hành vi bị nghiêm cấm; quy chuẩn kỹ thuật về môi trường; về trách nhiệm quản lý Nhà nước của Chính phủ, các bộ, ngành và UBND các cấp; quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư trong bảo vệ môi trường; về tính khả thi, thống nhất trong hệ thống pháp luật; về văn phong, bố cục, kỹ thuật văn bản… cũng đã được rà soát, chỉnh lý, bổ sung.

Buổi chiều, Quốc hội nghe các nội dung sau: Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Phòng, chống ma túy (sửa đổi); Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Giao thông đường bộ (sửa đổi); Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Bảo đảm trật tự, an toàn giao thông đường bộ; Tờ trình và Báo cáo thẩm tra dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở; Tờ trình và báo cáo thẩm tra về dự thảo Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Sau đó, Quốc hội thảo luận trực tuyến về dự thảo Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc.

Trước đó, buổi chiều 23/10/2020, dưới sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu, Quốc hội đã nghe Ủy viên UBTVQH, Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề Xã hội của Quốc hội Nguyễn Thúy Anh trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (sửa đổi). Sau đó, Quốc hội tiến hành thảo luận trực tuyến về một số nội dung còn ý kiến khác nhau của dự thảo Luật. Qua thảo luận đã có 22 đại biểu phát biểu và 03 đại biểu tranh luận; trong đó, về cơ bản các ý kiến đại biểu phát biểu nhất trí với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật của UBTVQH. Để tiếp tục hoàn thiện dự thảo Luật, các đại biểu cũng tập trung góp ý kiến về một số vấn đề liên quan đến: chủ thể đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài; về chính sách của Nhà nước về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; về Quỹ hỗ trợ việc làm ngoài nước; về Giấy phép hoạt động trong lĩnh vực của doanh nghiệp dịch vụ; về vốn chủ sở hữu; về giới hạn số lượng chi nhánh của doanh nghiệp được thực hiện hoạt động dịch vụ; về ký quỹ của doanh nghiệp; về quyền và nghĩa vụ của người lao động, của doanh nghiệp dịch vụ; trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, của các cơ quan, tổ chức liên quan; về tạo việc làm cho lao động về nước.v.v. Sau thảo luận, Bộ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Đào Ngọc Dung đã báo cáo giải trình, làm rõ thêm một số vấn đề được các đại biểu Quốc hội quan tâm. Phát biểu kết luận, Phó Chủ tịch Quốc hội Uông Chu Lưu nhấn mạnh, tại phiên thảo luận, các đại biểu Quốc hội đã thảo luận sôi nổi, thẳng thắn, tâm huyết, với tinh thần trách nhiệm cao, về cơ bản, các đại biểu nhất trí với Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý của UBTVQH. Ngoài ra, để hoàn thiện dự thảo Luật, các đại biểu Quốc hội cũng cho ý kiến về nhiều nội dung quan trọng, đề nghị Ủy ban về các vấn đề xã hội của Quốc hội tiếp tục phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội và các cơ quan liên quan nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo Luật để trình Quốc hội xem xét, thông qua tại kỳ họp này.

Thanh Anh
Số lần đọc:26