QUỐC HỘI THẢO LUẬN VỀ DỰ ÁN LUẬT ĐẶC XÁ (SỬA ĐỔI)
Ngày: 11.06.2018
Sáng 11-6, Quốc hội nghe Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật của Quốc hội Nguyễn Khắc Định, trình bày báo cáo về việc điều chỉnh thời gian xem xét, thông qua dự án Luật Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt. Trên cơ sở nghiêm túc tiếp thu ý kiến của đại biểu Quốc hội, các tầng lớp Nhân dân và cử tri, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thận trọng, cân nhắc nhiều mặt và thống nhất với Chính phủ chỉnh lý quy định của dự thảo Luật về thời hạn sử dụng đất để sản xuất kinh doanh áp dụng theo quy định của Luật Đất đai hiện hành, không quy định trường hợp đặc biệt kéo dài đến 99 năm. Đồng thời, Ủy ban Thường vụ Quốc hội thống nhất với Chính phủ trân trọng đề nghị Quốc hội cho điều chỉnh thời gian thông qua dự án Luật này từ kỳ họp thứ 5 sang kỳ họp thứ 6 (tháng 10/2018) để có thêm thời gian nghiên cứu, tiếp thu tối đa các ý kiến xác đáng của đại biểu Quốc hội, cán bộ lão thành, chuyên gia, nhà khoa học và Nhân dân, hoàn thiện dự thảo Luật, bảo đảm xây dựng thành công ba đặc khu Vân Đồn, Bắc Vân Phong và Phú Quốc,…

Sau đó, Quốc hội thảo luận về dự án Luật Đặc xá (sửa đổi). Qua thảo luận, đa số ý kiến nhất trí với việc cần thiết sửa đổi Luật Đặc xá; nhiều ý kiến thống nhất với tên gọi là Luật Đặc xá (sửa đổi); một số ý kiến đề nghị làm rõ nội hàm khái niệm đặc xá; có ý kiến đồng ý với phạm vi sửa đổi của dự thảo Luật; đề nghị sửa đổi, bổ sung phạm vi, đối tượng điều chỉnh cho phù hợp quy định tại Điều 10 của dự thảo Luật.

Về thời điểm đặc xá: Có ý kiến nhất trí về 3 thời điểm đặc xá như dự thảo Luật; ý kiến khác cho rằng 3 thời điểm đặc xá quy định trong dự thảo Luật là quá rộng, đề nghị bỏ quy định “nhân ngày lễ lớn của đất nước” vì trong năm có nhiều ngày lễ lớn; nhiều ý kiến đề nghị cần quy định rõ và có khái niệm cụ thể, thống nhất về “sự kiện trọng đại của đất nước”; nhiều ý kiến đề nghị quy định rõ về “ngày lễ lớn của đất nước”; đề nghị quy định cụ thể thời điểm đặc xá như: Nhân dịp Quốc khánh 02/9 hoặc 30/4 để bảo đảm minh bạch, thuận lợi cho các cơ quan trong quá trình tham mưu, tổ chức thực hiện; quy định thời gian hoặc số lần đặc xá tối đa trong Luật như quy định 05 năm thực hiện 02 lần đặc xá hoặc 3 năm đến 5 năm thực hiện đặc xá một lần, tránh trùng lắp với tha tù trước thời hạn có điều kiện; quy định cụ thể thời điểm đặc xá trong trường hợp đặc biệt.

Về các trường hợp không đề nghị đặc xá: Bổ sung trường hợp không đề nghị đặc xá đối với người đã được đặc xá nhưng sau đó lại phạm tội; cân nhắc khoản 3, Điều 11, không quy định “Chủ tịch nước quyết định các trường hợp khác” mà quy định cụ thể trong Luật để thực hiện thống nhất.

Về thực hiện quyết định đặc xá đối với người nước ngoài: Một số ý kiến tán thành với Điều 19 dự thảo Luật; có ý kiến đề nghị cân nhắc thận trọng Điều 19, nhất là điều kiện phải có cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự đến nhận người được đặc xá là người nước ngoài, bảo đảm phù hợp với Công ước Viên; rà soát lại quy định tại Điều 19 bảo đảm bao quát hết đối tượng được đặc xá là người nước ngoài (cả trường hợp người không có quốc tịch); cần quy định cả trường hợp phạm nhân là người nước ngoài mà bị mất giấy tờ khi được đặc xá,... Đề nghị đối chiếu Điều 19 với Điều 14 của dự thảo Luật để bảo đảm tính thống nhất trong các quy định của Luật; quy định rõ trường hợp không có ý kiến của Bộ ngoại giao thì có được đề nghị đặc xá hay không.

Về đặc xá trong trường hợp đặc biệt: Đề nghị có đánh giá cụ thể hơn về việc thực hiện đặc xá trong trường hợp đặc biệt theo quy định của Luật hiện hành để có căn cứ sửa đổi, bổ sung; cân nhắc kỹ các điều kiện cần và đủ để bảo đảm Chủ tịch nước thực hiện đúng thẩm quyền đặc biệt của mình; quy định rõ hơn nguyên tắc xác định “các trường hợp đặc biệt”, quy định tiêu chí xác định thế nào là “để đáp ứng yêu cầu đối nội, đối ngoại”, bảo đảm tính chủ động trong công tác tham mưu, thống nhất áp dụng; một số ý kiến tán thành quy định của dự thảo Luật vì nếu quy định cụ thể trường hợp nào là trường hợp đặc biệt sẽ gây khó khăn trong quá trình thực hiện đối nội, đối ngoại của Nhà nước; cân nhắc việc áp dụng đặc xá trong trường hợp đặc biệt đối với các tội về xâm phạm an ninh quốc gia và chống phá nhà nước; đề nghị được áp dụng đặc xá trong trường hợp đặc biệt đối với người đang được tạm đình chỉ và người đang được hoãn chấp hành án phạt tù; đề nghị quy định trình tự, thủ tục thực hiện đặc xá trong trường hợp đặc biệt cần rút gọn hơn; làm rõ cơ quan, tổ chức nào tham mưu cho Chủ tịch nước khi đặc xá trong trường hợp đặc biệt. Bổ sung cụm từ “chính trị” vào sau cụm từ “để đáp ứng yêu cầu” tại Điều 21 dự thảo Luật; thiết kế Điều 21 thành hai khoản: Khoản 1 quy định thế nào là trường hợp đặc biệt, khoản 2 quy định về điều kiện cụ thể,....

Buổi chiều, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục.

Phát biểu về dự án Luật Trồng trọt vào chiều (08-6), đại biểu Trần Văn Huynh, thống nhất với việc cần thiết ban hành Luật Trồng trọt và có một số ý kiến đóng góp về nội dung dự thảo Luật Trồng trọt như sau: Tại khoản 2 Điều 81, nếu sau khi dự thảo được thông qua mà phát hiện những chồng chéo, mâu thuẫn giữa Luật Trồng trọt và các văn bản pháp luật khác thì khó áp dụng, đây là điều mà Ban soạn thảo cần giải quyết. Do đó, đề nghị Ban soạn thảo phải nghiên cứu, rà soát, thống kê cụ thể lĩnh vực giống cây trồng liên quan đến bao nhiêu luật, thậm chí liên quan cụ thể điều khoản nào trong từng luật, có xung đột pháp lý nào với các luật hiện hành hay không. Từ đó, đưa ra đánh giá tác động của việc sửa đổi, bổ sung các quy định này mới có tính thuyết phục và đảm bảo tính khả thi của dự luật.

Phạm vi điều chỉnh của dự thảo luật khá rộng, do đó vẫn còn những lĩnh vực mà các quy định mới chỉ đề cập đến một cách định hướng chung chung, đơn cử như các quy định về canh tác hữu cơ, canh tác hữu cơ được quy định tại mục 2 Chương IV, cụ thể tại Điều 69, phát triển và bảo vệ vùng canh tác hữu cơ. Những quy định này mới chỉ mang tính định hướng chung, trong khi đó hiện nay canh tác hữu cơ không chỉ định hướng lớn với ngành nông nghiệp mà còn phục vụ đắc lực cho việc tái cơ cấu ngành, giúp nâng cao giá trị của sản phẩm, đồng thời cải thiện đời sống cho nông dân. Do vậy, Ban soạn thảo nên cân nhắc, bổ sung các quy định mang tính chất quyết định với một nền nông nghiệp hữu cơ như việc ban hành các tiêu chuẩn, quy chuẩn về sản phẩm hữu cơ, công nhận sản phẩm, nhãn hiệu, hỗ trợ thương mại,…

Nguyễn Dư
Số lần đọc:93