QUỐC HỘI TIẾP TỤC CHẤT VẤN VÀ TRẢ LỜI CHẤT VẤN
Ngày: 06.06.2018
Thứ Ba, ngày 05-6, Quốc hội tiếp tục ngày làm việc thứ 2 của phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ 5. Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân, điều hành phiên chất vấn. Buổi sáng, ông Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục trả lời chất vấn. Chất vấn đối với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Nguyễn Thị Kim Bé (ảnh), Tỉnh ủy viên, Phó Trưởng Đoàn chuyên trách, Đoàn ĐBQH tỉnh Kiên Giang nêu vấn đề: Nghị quyết số 120 của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, ĐB cho rằng đây là một Nghị quyết hết sức đúng đắn. Tuy nhiên, thời gian qua, việc triển khai chậm. Xin hỏi Bộ trưởng, với tư cách là người tham mưu cho Chính phủ thì Bộ trưởng sẽ làm gì và Chính phủ sẽ có giải pháp gì để thực hiện kịp thời các chỉ tiêu mà Nghị quyết đã đề ra.

Ông Trần Hồng Hà, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường trả lời, sau khi Chính phủ phê duyệt Nghị quyết 120, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã hết sức tập trung triển khai. Trong đó, đang xem lại dự án Ngân hàng thế giới để đầu tư vào việc từ những dự án đã mang tính chất để tạo sinh kế trên ba vùng kinh tế sinh thái. Hiện nay các bộ, ngành đang làm một công việc cần phải làm đó là rà soát lại các quy hoạch và đặc biệt xây dựng quy hoạch tích hợp tổng thể đồng bằng sông Cửu Long phát triển bền vững, bởi vì có quy hoạch này chúng ta mới có định hướng trong tương lai vấn đề ưu tiên đầu tư. Hiện nay kế hoạch hành động cụ thể hóa đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường, các bộ, ngành và các địa phương xem xét dựa trên các vấn đề ưu tiên, đưa vào giải quyết những vấn đề về mặt phi công trình, công trình trước mắt cũng như dài hạn,...

Kết thúc phiên chất vấn đối với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nhận xét: Tại phiên chất vấn, có 59 ĐBQH đặt câu hỏi, và 17 đại biểu (ĐB) tranh luận, còn 24 ĐB đặt câu hỏi chưa được trả lời, Bộ trưởng sẽ trả lời bằng văn bản.

Phiên chất vấn của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, Trần Hồng Hà diễn ra sôi nổi, tranh luận thẳng thắn theo tinh thần đổi mới trong hoạt động chất vấn của Quốc hội. Các ĐB đã đặt câu hỏi ngắn, gọn, đi thẳng vào những vấn đề ĐBQH và cử tri quan tâm. Đây là lần thứ hai Bộ trưởng Trần Hồng Hà trả lời chất vấn trước Quốc hội. Bộ trưởng đã nắm rất chắc vấn đề, trả lời rõ ràng, thẳng thắn nhận trách nhiệm đối với những mặt còn thiếu sót, hạn chế, tồn tại và cũng đã đưa ra nhiều giải pháp thiết thực để khắc phục trong thời gian tới. Đất đai và môi trường là những vấn đề liên quan chặt chẽ, mật thiết tới đời sống của Nhân dân, gắn với sự phát triển bền vững của đất nước nên được các ĐBQH, cử tri và Nhân dân đặc biệt quan tâm.

Trong thời gian qua, công tác quản lý đất đai từng bước được triển khai chặt chẽ, kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016 - 2020 đã được các địa phương cơ bản hoàn thành. Hoạt động kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại các khu, cụm công nghiệp, làng nghề đã có nhiều chuyển biến tích cực. Đã xây dựng, triển khai kế hoạch quốc gia về thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030 và tầm nhìn đến 2050. Đang triển khai nghị quyết của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được, công tác quản lý Nhà nước về đất đai, bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm, phòng chống biến đổi và thích ứng với biến đổi khí hậu còn không ít tồn tại, hạn chế, bất cập như rất nhiều ĐB đã chất vấn. Chúng ta cần có những giải pháp thiết thực để tạo sự chuyển biến tích cực trong thời gian tới, cả trước mắt và lâu dài.

Đề nghị Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường và các bộ, ngành có liên quan tiếp thu ý kiến của ĐBQH. Chỉ đạo quyết liệt, thực hiện các giải pháp đã đề ra, nhằm khắc phục những tồn tại, hạn chế. Trong đó, tập trung vào một số vấn đề sau:

Rà soát, đánh giá đầy đủ tình hình triển khai thi hành pháp luật về đất đai. Tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, giám sát, quản lý về đất đai trên phạm vi cả nước, nhất là quỹ đất dùng cho mục đích công cộng ở các thành phố lớn. Có biện pháp quản lý để hạn chế tình trạng đầu cơ đất đai gây tác động tiêu cực đến thị trường bất động sản.

Rà soát lại quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, các dự án có liên quan đến đất đai. Việc sử dụng đất công lãng phí, chấn chỉnh, lập lại trật tự, kỷ cương, quản lý đất ven sông, ven biển. Xử lý nghiêm đối với tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về đất đai, nhất là người đứng đầu của các cơ quan, đơn vị buông lỏng về quản lý đất đai để xảy ra tình trạng lấn chiếm, chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất trái phép, giao đất không đúng thẩm quyền. Kiên quyết xử lý thu hồi theo quy định của pháp luật đối với đất để hoang hóa, lãng phí chậm đưa vào sử dụng, hoặc sử dụng trái pháp luật. Tiếp tục cải cách hành chính trong quản lý đất đai, khẩn trương xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai theo lộ trình xây dựng Chính phủ điện tử. Nghiên cứu đổi mới phương pháp định giá đất phù hợp với thực tiễn, tập trung giải quyết khiếu nại, tố cáo các tranh chấp khiếu kiện đông người, kéo dài liên quan đất đai. Tập trung rà soát sửa đổi hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường. Triển khai thực hiện các chương trình quan trắc và cảnh báo môi trường nhất là tại các thành phố lớn, các vùng kinh tế trọng điểm, khu tập trung nhiều nguồn thải và khu vực nhạy cảm về môi trường.

Triển khai quy hoạch xử lý rác thải, xây dựng và triển khai mô hình mẫu về xử lý rác thải. Hướng dẫn người dân làm tốt công tác phân loại rác, theo dõi chặt hoạt động của các doanh nghiệp các khu công nghiệp lớn, khu công nghiệp ven sông ven biển có nguy cơ gây ảnh hưởng môi trường. Rà soát đánh giá hoạt động của các cụm công nghiệp ở các địa phương. Giám sát hoạt động xả thải của doanh nghiệp, nghiên cứu xây dựng hệ thống giám sát chất thải, nước thải và ô nhiễm không khí tại các địa phương nhất là ở các cụm công nghiệp, làng nghề, không để xảy ra sự cố nghiêm trọng về môi trường.

Quản lý chặt tài nguyên nước theo Luật Tài nguyên nước, làm tốt công tác đánh giá tác động môi trường, kiểm soát ô nhiễm môi trường ngay từ khâu này. Kiểm tra giám sát việc đáp ứng, tiêu chuẩn, quy chuẩn về môi trường trong việc nhập khẩu triển khai các dự án, rà soát quản lý chặt việc nhập khẩu phế liệu và nhất định không nhập khẩu chất thải. Đánh giá phân loại nhà đầu tư, không triển khai các dự án sử dụng công nghệ lạc hậu gây ô nhiễm môi trường.

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Chú ý thanh tra đột xuất các cơ sở có nguy cơ ô nhiễm, sớm xây dựng quy định giải quyết bồi thường thiệt hại về môi trường theo nguyên tắc người nào gây ô nhiễm thì phải trả tiền. Tiếp tục xây dựng hoàn thiện các cơ chế chính sách về biến đổi khí hậu. Xây dựng năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai thích ứng với biến đổi khí hậu. Tăng cường vai trò vị thế của Việt Nam trên các diễn đàn đa phương về biến đổi khí hậu. Chủ động hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế, các quốc gia có liên quan để giải quyết tốt các vấn đề do biến đổi khí hậu đặt ra.

Triển khai có hiệu quả Nghị quyết 853 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về giám sát và đẩy mạnh việc thực hiện chính sách pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu ở đồng bằng sông Cửu Long, quản lý chặt chẽ, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động khai thác cát, sỏi, lòng sông, gây sạt lở, xây dựng chương trình hành động để thực hiện Nghị quyết 120 của Chính phủ về phát triển đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu, tăng cường công tác quản lý, sử dụng tài chính, ngân sách và các nguồn lực khác cho các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu một cách hiệu quả, kiểm tra, giám sát, đánh giá kịp thời việc sử dụng các nguồn vốn trong và ngoài nước cho ứng phó với biến đổi khí hậu, ưu tiên bố trí và sử dụng có hiệu quả kinh phí triển khai thực hiện những dự án cấp thiết, đặc biệt là các dự án chống sạt lở bờ biển, bờ sông để tránh ảnh hưởng lớn đến sản xuất, tính mạng và đời sống của nhân dân.

Sau đó, Bộ trưởng Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội trả lời chất vấn, nhóm vấn đề thứ 3 về thực trạng thị trường lao động ở nước ta hiện nay, vấn đề giải quyết việc làm trong nước và đưa lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc theo hợp đồng. Các giải pháp nâng cao chất lượng dạy nghề; dạy nghề theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp và theo nhu cầu xã hội. Công tác chăm sóc và bảo vệ trẻ em; giải pháp khắc phục tình trạng bạo hành và xâm hại trẻ em,...

Nguyễn Dư
Số lần đọc:38